• Vận Tải Đường Biển
    VDM Forwarder là một nhóm hậu cần cung cấp một loạt các dịch vụ vận chuyển chuyên nghiệp / dịch vụ giao nhận vận tải tới các điểm đến trên toàn thế giới
  • Vận chuyển đường Biển - Vận tải nội địa
    Với vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam có bờ biển trải dài và hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển đường biển hàng hoá bằng đường biển trên toàn lãnh thổ Việt Nam
  • Dịch vụ khai báo hải quan
    Với kiến thức sâu rộng về luật pháp Việt Nam, luôn cập nhật kịp thời các văn bản mới của Chính phủ và thực tiễn thương mại quốc tế, VDM được dành riêng để bảo vệ hàng hóa của bạn trong khi cung cấp thông quan kịp thời và chính xác.
  • Dịch vụ giao nhận hàng hoá
    Thông tin đang được cập nhật
  • Vận tải quốc tế - Vận Chuyển quốc tế
    Hiện nay ngành dịch vụ vận tải quốc tế đang chiếm thị phần trên nước ta cũng như ngoài nước và đó là một tiềm năng mới cho ngành
  • Môi Giới Hàng Hải Và Thuê Tàu
    Với mối quan hệ sâu rộng với nhiều chủ tàu và chủ hàng, công ty đã ngày càng tạo được chổ đứng vững chắc trong lĩnh vực môi giới vận tải hàng hoá và tàu biển
  • Đại Lý Và Cung Ứng Tàu Biền
    Công ty có đội ngũ nhân viên với nhiều kinh nghiệm và kiến thức sâu rộng trong hoạt động vận tài biển
Để Luật Đầu tư tương thích với Luật Thương mại và cam kết quốc tế
Dưới góc độ thương mại, mặc dù dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) đã cập nhật các quy định của pháp luật thương mại, của điều ước quốc tế liên quan đến thương mại, đầu tư, nhưng vẫn còn một số bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn quản lý hiện nay.
 Về phạm vi điều chỉnh (điều 1): Dự thảo đưa ra khái niệm “đầu tư kinh doanh”, chắc là để phân biệt với Luật đầu tư công từ nguồn vốn nhà nước. Tuy nhiên, đầu tư và kinh doanh là hai phạm trù tuy có quan hệ nhưng riêng biệt. Vì vậy nên để nguyên khái niệm “đầu tư” như trước đây để phù hợp với tên gọi của Luật đầu tư và phù hợp cách hiểu lâu nay của mọi người: đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lợi.

Ở phần “Giải thích từ ngữ”, điều 3, mục 6 về “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, giải thích đó như là tổ chức kinh tế có thành viên hoặc cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài thì chưa ổn, vì như vậy sẽ bỏ sót nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn tại Việt Nam (ngoài nhà đầu tư theo quy định tại mục 3.c đã thành lập doanh nghiệp trước đây chưa đăng ký lại).

Điều 3, mục 16 định nghĩa khu chế xuất chỉ là “Khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu”, mà không có ranh giới địa lý xác định giống như mục 14 về khu công nghiệp và mục 16 về khu kinh tế thì  không đúng với bản chất của khu chế xuất, không phù hợp với yêu cầu quản lý đối với khu chế xuất đã được quy định trong Luật Thương mại, Luật Hải quan. Đề nghị giữ nguyên quy định về khu chế xuất tại điều 3. 21 của Luật Đầu tư hiện hành, theo đó “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”.

Về điều kiện, thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, điều 24 quy định các tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 51% vốn điều lệ mới được coi là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này trái ngược với cách hiểu hiện nay của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư là chỉ cần 1% vốn của nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng các thủ tục quản lý (thẩm tra cấp/điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, quản lý hoạt động, chế độ báo cáo...) như đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nếu quy định như dự thảo, nhà đầu tư nước ngoài sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp trong nước, một mặt sẽ tạo ra cơ hội lớn để thu hút nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài vào, mặt khác sẽ dần xóa nhòa ranh giới giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Đó là điều đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên, quy định này sẽ tạo ra kẽ hở trong việc thực thi các cam kết với WTO. Cụ thể, theo cam kết WTO, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa (theo quy định tại Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12-2-2006 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Công Thương) đều phải qua thẩm tra và có ý kiến chấp thuận của Bộ Công Thương mới được cơ quan quản lý đầu tư cấp hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Với số vốn dưới 51%, nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ tranh thủ cơ hội này để đầu tư mở hệ thống cơ sở bán lẻ (vốn phải xem xét từng trường hợp theo các tiêu chí về nhu cầu kinh tế - ENT) hoặc đầu tư vào các ngành dịch vụ hiện còn hạn chế (môi giới thương mại, đại lý hoa hồng, cho thuê thiết bị...).

Điều 43, mục 4 quy định nhà đầu tư (cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài) được “gia công, gia công lại sản phẩm; đặt gia công và gia công lại trong nước, đặt gia công ở nước ngoài". Đối với doanh nghiệp trong nước, không có hạn chế nào về quyền gia công mà chỉ có yêu cầu về danh mục mặt hàng phải xin phép trước khi ký hợp đồng gia công. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngoài việc tuân thủ các quy định về gia công theo pháp luật thương mại, doanh nghiệp còn bị hạn chế về lộ trình mở cửa thị trường theo cam kết với WTO.

Cụ thể nếu doanh nghiệp thực hiện dịch vụ liên quan đến sản xuất  (CPC 884, 885), thực chất là dịch vụ gia công, thì sau ba năm kể từ ngày thành lập liên doanh với số vốn không vượt quá 50%, năm năm sau đó mới được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Do vậy, đề nghị thêm cụm từ “theo quy định của pháp luật về thương mại và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” vào cuối mục này.

Ngoài ra,  điều 43 có mục 5 quy định: “Nhà đầu tư được thực hiện các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ cho dự án đầu tư sản xuất, dịch vụ; hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu”, trong khi hiện đang có nhiều nhà đầu tư xin đăng ký kinh doanh theo phương thức này nhưng chưa được giải quyết vì Việt Nam không cam kết với WTO cho phép nhà đầu tư nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam để đầu tư trong lĩnh vực này.

Về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, điều 46 quy định về các hình thức đầu tư ra nước ngoài là không cần thiết vì nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ theo pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư. Theo đó, luật pháp của nước sở tại có thể có nhiều hình thức đầu tư phong phú hơn hoặc hạn chế hơn so với quy định của Việt Nam. Quy định như vậy sẽ làm các nhà đầu tư lúng túng vì nếu lựa chọn hình thức đầu tư không đúng với quy định của ta sẽ dẫn đến “vi phạm” luật.

Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài, theo quy định tại điều 65, mục 2 và 3, chưa phù hợp với thực tiễn xuất nhập khẩu và hoạt động thương mại của nhà đầu tư khi thực hiện triển khai dự án đầu tư. Theo đó khi triển khai dự án đầu tư ở nước ngoài, nhà đầu tư Việt Nam phải tiến hành các hoạt động chuyển vốn bằng tiền mặt hoặc bằng các tài sản khác trong đó có máy móc thiết bị, vật tư nguyên liệu để thực hiện dự án. Khi chuyển vốn bằng các hàng hóa này, không chỉ là hoạt động xuất khẩu mà còn cả hoạt động nhập khẩu đối với hàng hóa dư thừa không thể tiêu thụ tại nước sở tại; hoạt động tạm xuất máy móc thiết bị để thi công xây dựng công trình và tái nhập máy móc thiết bị sau khi công trình đã hoàn thành. Ngoài ra đối với nhà đầu tư trúng thầu thi công xây dựng công trình ở nước ngoài thì hoạt động tạm xuất tái nhập diễn ra rất phổ biến.

Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh phải có giấy phép, chấp thuận hoặc xác nhận trước khi tiến hành hoạt động (Phụ lục 4) còn thiếu danh mục ngành nghề đối với hoạt động nhập khẩu, phân phối hàng hóa, bao gồm cả việc mở hệ thống bán lẻ (đối với nhà đầu tư nước ngoài) theo lộ trình mở cửa thị trường cam kết với WTO. Trong khi đó, hoạt động nhượng quyền thương mại - một hình thức của hoạt động phân phối hàng hóa- chỉ cần đăng ký với cơ quan của Bộ Công Thương thì lại bị quy định (mục 83).  Đối với danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không cần giấy phép, chấp thuận hoặc xác nhận trước khi tiến hành hoạt động, đề nghị làm rõ các ngành nghề: kinh doanh tạm nhập, tái xuất; kinh doanh chuyển khẩu có áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài không và nếu được thì nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện gì.

(*) Luật sư, Tiến sĩ, Công ty Luật LNT & Partners

Quay lại
Tin tức khác
Support online
VDM CUS
Sales1
Sales2
VDM1
0909021545
VDM3
0909711730
VDM2
0935711730
Hotline
0909.021.545
Video clip